Đi tìm nguồn gốc chiếc áo bà ba

Đặc điểm

Áo bà ba là một loại trang phục phổ biến ở các miền quê Nam Bộ – Việt Nam. Áo bà ba còn được gọi là áo cánh. Đây là kiểu áo không cổ, có phần thân sau may bằng một mảnh vải nguyên, trong khi thân trước gồm hai mảnh, ở giữa là hàng khuy cài chạy dài từ trên xuống. Áo thường được may chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông, độ dài phủ qua mông, tạo nên form dáng trang phục gọn gàng và thuận tiện cho sinh hoạt.
di-tim-nguon-goc-ao-ba-ba 4_zpsz7vzmb7b.jpg

Đặc trưng của đồ bà ba nằm ở sự đa dạng về chất liệu và cách sử dụng. Dù là chiếc áo may bằng vải ú màu đen của người lao động hay bộ đồ bằng satin trắng, gấm hoặc lụa thêu hoa của người giàu, tất cả đều được gọi chung là đồ bà ba. Một bộ bà ba có thể gồm áo bà ba tay dài, có hoặc không có túi; áo trong tay lỡ hoặc tay ngắn, thường có hai túi; quần đáy nem cột dây hoặc luồn thun; kết hợp cùng khăn vuông, nón lá và khăn rằn.

Về cấu trúc trang phục, áo bà ba có những đặc điểm khá đơn giản nhưng phù hợp với điều kiện sinh hoạt và khí hậu Nam Bộ. Tương truyền, thời kỳ đầu, áo bà ba có nét tương đồng với kiểu “áo đàn ông cổ tròn và cửa ống tay hẹp” mà Lê Quý Đôn từng đề cập khi quy định trang phục cho cư dân từ Thuận Quảng trở vào vào cuối thế kỷ 18.

Một quan niệm khác cho rằng áo bà ba có thể chịu ảnh hưởng và được cách tân từ áo lá, áo xá xẩu bằng vải buồm đen của người Hoa lao động. Đây là những kiểu áo có cấu trúc tương đối cứng, xẻ giữa và cài bằng nút thắt. Trong điều kiện khí hậu nóng quanh năm, phần cổ áo có thể được giản lược, trong khi kiểu xẻ giữa và cách cài nút cũng dần thay đổi dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây.

Giả thuyết

di-tim-nguon-goc-ao-ba-ba 1_zpstpnfjbgp.jpg

Riêng áo bà ba có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc. Dưới đây là hai quan điểm thường được nhắc đến:

1. Áo bà ba xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 19 và được cho là do Trương Vĩnh Ký cách tân từ kiểu áo của người dân đảo Penang, Malaysia, đặc biệt là cộng đồng người Malaysia gốc Hoa, để phù hợp hơn với người Việt.

2. Theo nhà văn Sơn Nam, “bà ba” được cho là cách gọi liên quan đến người Mã Lai lai Trung Hoa, và chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, với vạt ngắn và không có bâu, có thể bắt nguồn từ kiểu áo của cộng đồng này.

Tuy nhiên, cả hai giả thuyết đều còn những điểm cần được xem xét. Chi tiết cho rằng áo bà ba do Trương Vĩnh Ký cách tân chưa có cơ sở thật sự chắc chắn. Trong Từ điển Pháp – Việt (Dictionnaire Français-Annamite, NXB Sài Gòn, 1937) của Trương Vĩnh Ký, không thấy đề cập đến thuật ngữ “áo bà ba”, vì vậy rất khó khẳng định vai trò của ông trong quá trình hình thành kiểu áo này.

Quan điểm của nhà văn Sơn Nam cũng có những điểm chưa thống nhất về mặt khái niệm. Không có một sắc tộc riêng được gọi là “người Bà Ba” theo nghĩa “người Mã Lai lai Trung Hoa”. Trên thực tế, cộng đồng Peranakan Chinese, còn được gọi là Baba-Nyonya, là hậu duệ của những người Trung Quốc di cư và định cư tại các khu vực Đông Nam Á, trong đó có Malaysia.

Logo của Trung tâm đào tạo thiết kế Thời trang DEC

Chữ “Bà Ba” rất có thể liên quan đến từ “Baba” trong ngôn ngữ Malaysia – một từ có nguồn gốc vay mượn từ tiếng Ba Tư và thường được dùng để chỉ nam giới như “ông”, “ngài” hoặc “người đàn ông”. Vì vậy, “Baba” không phải tên gọi của một sắc tộc.

Tương tự, “Baba-Nyonya” cũng không phải cách gọi riêng cho “người Bà Ba”. Đây là tên gọi chung dành cho cộng đồng Peranakan trong tiếng Malaysia và Indonesia. “Baba” thường chỉ nam giới, trong khi “Nyonya” dùng để chỉ phụ nữ. Đáng chú ý, phụ nữ Peranakan ở Malaysia có một kiểu áo cánh mang tên kebaya, có nhiều nét tương đồng với áo bà ba. Tại Indonesia, cộng đồng Peranakan cũng có kiểu áo tương tự là kebaya encim, trong đó “encim” mang nghĩa “phụ nữ”

Tóm lại, trong những thế kỷ trước, áo bà ba đã xuất hiện ở Việt Nam. Thông qua việc buôn bán, người Việt Nam có thể đã giao lưu văn hóa với người Peranakan, cách tân kiểu áo của họ để có được “áo bà ba.”

DEC Design Education sưu tầm & biên tập.

#DEC : " Học để trở thành chuyên nghiệp